Chính phủ vừa ban hành Nghị định 184/2026. Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 59/2019, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định 134/2021.
Phân định rõ thẩm quyền trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng
Đáng chú ý, nghị định bổ sung một chương mới để phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan thanh tra trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng đối với người giữ chức vụ từ thứ trưởng trở lên; người công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, doanh nghiệp do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý; người giữ chức vụ từ giám đốc sở và tương đương…
Thanh tra Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
Thanh tra tỉnh có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
Bên cạnh đó, chương này cũng quy định rõ trách nhiệm khi thanh tra, các cơ quan phải làm rõ hành vi tham nhũng, thiệt hại kinh tế, vai trò của người đứng đầu và kiến nghị hình thức xử lý cũng như các biện pháp xử lý tài sản tham nhũng.
Bổ sung nguyên tắc và hình thức giải trình
Nghị định 184/2026 bổ sung nguyên tắc thực hiện trách nhiệm giải trình và hình thức giải trình. Theo đó nguyên tắc giải trình phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan và công khai, minh bạch. Đặc biệt, việc thực hiện trách nhiệm giải trình phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân, tổ chức.
Về hình thức giải trình, được thực hiện qua hai hình thức là giải trình trực tiếp tại các cuộc họp/buổi làm việc hoặc giải trình bằng văn bản (văn bản giấy hoặc môi trường điện tử).
Nghị định 184/2026 cũng bổ sung quy định về 7 hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình là:
- Không thực hiện giải trình khi có yêu cầu hợp pháp.
- Cố ý giải trình không đầy đủ, không trung thực.
- Cố ý kéo dài thời gian giải trình.
- Cung cấp thông tin sai lệch, che giấu thông tin hoặc cản trở việc thực hiện yêu cầu giải trình.
- Cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ không báo cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị về yêu cầu giải trình, nội dung giải trình và việc thực hiện trách nhiệm giải trình.
- Cung cấp thông tin không được phép công khai; cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm giải trình.
- Không lưu trữ, quản lý hồ sơ giải trình theo quy định của pháp luật.
Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm về trách nhiệm giải trình trong cơ quan, đơn vị mình.
Nghị định 184/2026 cũng quy định người đứng đầu phải "chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình" trong cơ quan, đơn vị mình. Quy định cũ tại Nghị định số 59/2019 chỉ dừng lại ở việc kiểm tra và xử lý vi phạm của cấp dưới mà chưa nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.
Bên cạnh đó, tại Điều 7 cũng bổ sung thêm trách nhiệm cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ. Theo đó, cá nhân phải chủ động thực hiện giải trình với người yêu cầu. Đồng thời phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giải trình; phải báo cáo người đứng đầu về yêu cầu giải trình và kết quả thực hiện.
Cá nhân phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu và trước pháp luật về nội dung giải trình của mình.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận