
Tại một đơn vị nghiên cứu chế tạo drone ở TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Thông tin này được các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất drone, UAV, thiết bị bay không người lái của Việt Nam đón nhận tích cực.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trần Anh Tuấn - nhà sáng lập Saolatek, đơn vị chuyên sản xuất drone, xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới - cho rằng điều này sẽ thúc đẩy nền kinh tế tầm thấp quy mô hàng chục tỉ USD của Việt Nam phát triển.
Tách bạch giữa sản xuất drone dân dụng với quân sự
* Các doanh nghiệp sản xuất drone trong nước sẽ được "cởi trói" khi Chính phủ ban hành nghị quyết về cắt giảm 58 ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện? Theo ông, điều này sẽ tác động ra sao đến chuỗi sản xuất, cung ứng drone trong nước?
- Nếu chúng ta khó khăn trong cấp phép sản xuất drone hoặc motor hay bất cứ linh kiện nào phục vụ sản xuất, lắp ráp drone, chúng ta sẽ mất nhiều cơ hội. Vì các nước tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất drone đang đi rất nhanh.
Tiềm năng ngành sản xuất drone của Việt Nam rất lớn, cần cơ chế mở để thúc đẩy ngành sản xuất tỉ USD này.
Việc Chính phủ đưa ngành nghề sản xuất kinh doanh tàu bay không người lái, phương tiện bay khác, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị bay không người lái và phương tiện bay khác ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư chỉ là một phần thôi.
Điều quan trọng hơn là phải tìm cách tháo gỡ để các doanh nghiệp có thể tham gia sản xuất được.
Thực ra, đưa ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Nhà nước sẽ có phương thức quản lý khác, theo thông lệ quốc tế.
Theo đó, cần chia lĩnh vực sản xuất drone, UAV thành hai hệ, một hệ quân sự, một hệ dân dụng. Ví dụ chúng ta đang có khoảng 10.000 chiếc drone đang bay, làm việc dưới nông trường ở nhiều nơi trên cả nước cần được coi là phương tiện sản xuất của người dân.
Tôi cho rằng trong ngành sản xuất drone, UAV cần đưa hoạt động sản xuất phục vụ dân sự thuộc nhóm hoạt động kinh doanh thông thường, còn nhóm sản xuất phục vụ quân sự vẫn thuộc nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Hiện nay chúng ta đang đánh đồng hoạt động sản xuất drone và siết hoạt động sản xuất nên ảnh hưởng cả ngành sản xuất drone trong nước. Hoạt động sản xuất drone dân dụng cần áp dụng phương pháp quản lý khác.
* Vậy chúng ta cần đơn giản hoạt động cấp phép sản xuất drone, các thiết bị liên quan thế nào để thúc đẩy phát triển ngành này?
- Các nhà sản xuất drone dân dụng trong nước chỉ mong lĩnh vực sản xuất drone được về như các ngành nghề sản xuất thông thường khác hiện nay là đã vui rồi.
Các quy định với lĩnh vực sản xuất drone hiện nay cực kỳ nghiêm ngặt, điều kiện kinh doanh rất khắt khe.
Tất cả các doanh nghiệp trong ngành đều gặp khó trong tất cả các khâu, phải xin cấp phép đào tạo, cấp phép sản xuất, nhập khẩu linh kiện về lắp ráp cũng rất khó khăn. Ngay cả khi doanh nghiệp đi xin cấp phép sản xuất cũng không biết bắt đầu từ đâu.
Hiện hoạt động cấp phép sản xuất drone đang giao cho Bộ Quốc phòng quản lý. Nếu Chính phủ đồng ý đưa lĩnh vực sản xuất drone dân dụng ra khỏi ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì sẽ tháo gỡ rất nhiều cho doanh nghiệp.
Còn để nguyên như hiện nay sẽ khó có được nền kinh tế tầm thấp như mong muốn của Chính phủ.
Đã xuất khẩu drone đi hàng chục nước
* Về năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước hiện nay, theo ông, chúng ta có thể tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu thế nào?
- Các doanh nghiệp sản xuất drone trong nước có thể tham gia "ngon lành" vào chuỗi sản xuất, cung ứng drone toàn cầu.
Thực tế đã có doanh nghiệp sản xuất drone trong nước thành công khi cung cấp sản phẩm đến hàng chục quốc gia trên thế giới.
Hơn nữa cần nhìn nhận ngành nghề sản xuất drone là động lực để phát triển nhiều ngành nghề khác. Khi chúng ta thành công với công nghệ sản xuất drone thì sẽ là nền tảng để phát triển, sản xuất robot, tàu tự hành, xe tự hành.
Mục đích siết hoạt động sản xuất drone trong nước hiện nay nhằm bảo đảm yếu tố an ninh quốc phòng, nhưng chúng ta cần tính tới khả năng drone nước ngoài họ xâm nhập lãnh thổ Việt Nam thì sao?
Vì vậy các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu một giải pháp quản lý, giám sát khác phù hợp hơn với ngành sản xuất drone trong nước.
Bên cạnh đó cần một cơ chế quản lý mở để doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ sản xuất drone và công nghệ để khắc chế drone khi cần thiết.
Ngoài ra Nhà nước cần tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng dùng để quản lý và áp chế drone, bảo đảm tất cả các drone khi bay trên bầu trời có dấu hiệu nguy hiểm sẽ bị xử lý.
Chứ không nên đánh đồng giữa người sản xuất kinh doanh, những người làm khoa học với những mối lo rủi ro từ sản xuất drone.
* Ông Võ Xuân Hoài (Phó giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, Bộ Tài chính):
Đã làm chủ được khoảng 80% công nghệ sản xuất UAV
Việt Nam có cơ hội lớn trong phát triển kinh tế tầm thấp, trong đó có hoạt động sản xuất UAV và thiết bị bay không người lái. Dự báo quy mô kinh tế tầm thấp của Việt Nam sẽ đạt 10 tỉ USD vào năm 2035.
Phát triển kinh tế tầm thấp gồm hai phần: thứ nhất là phát triển thiết bị, phương tiện bay tầm thấp; thứ hai là ứng dụng các thiết bị, phương tiện bay tầm thấp vào phát triển không gian kinh tế tầm thấp.
Theo khảo sát của các doanh nghiệp trong mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia và các chuyên gia về sản xuất UAV và thiết bị bay không người lái thì doanh nghiệp Việt hiện đã làm chủ được khoảng 80% công nghệ sản xuất UAV và thiết bị bay không người lái.
Phần còn lại là một số linh kiện doanh nghiệp trong nước chưa làm chủ được là chip và động cơ cánh.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận