
Người dân tham gia hoạt động tại một tổ dân phố ở Hà Nội - Ảnh: GIA HÂN
Tại nghị định 185/2026 của Chính phủ đã quy định chi tiết trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố.
Trình tự, thủ tục sắp xếp, hồ sơ thành lập thôn, tổ dân phố
Căn cứ nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, tiêu chuẩn thôn, tổ dân phố theo quy định tại nghị định và hướng dẫn của UBND cấp tỉnh, UBND xã xây dựng đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định.
Tiếp đó UBND xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến nhân dân về đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Cấp này tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến tham gia của nhân dân để hoàn thiện hồ sơ trình HĐND xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố gồm tờ trình của UBND xã, đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố.
Đề án này gồm các nội dung chủ yếu như sự cần thiết, hiện trạng quy mô số hộ gia đình, phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, tên gọi của thôn, tổ dân phố, điều kiện bảo đảm tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố, phương án bố trí, giải quyết đối với người hoạt động không chuyên trách và các nội dung có liên quan.
Bộ hồ sơ còn có báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân, dự thảo nghị quyết của HĐND xã.
Trên cơ sở hồ sơ do UBND xã trình, HĐND xã xem xét, ban hành nghị quyết về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Tại đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, UBND đặc khu tổ chức xây dựng đề án, lấy ý kiến nhân dân và quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự quy định.
Hồ sơ gồm các tài liệu quy định và dự thảo quyết định của UBND đặc khu. Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, UBND đặc khu ban hành quyết định về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
Quy định về đổi tên thôn, tổ dân phố
Nghị định cũng quy định về trường hợp đổi tên thôn, tổ dân phố. Theo đó, UBND xã lập phương án đổi tên thôn, tổ dân phố, trong đó nêu rõ lý do của việc đổi tên thôn, tổ dân phố, tên của thôn, tổ dân phố sau khi đổi tên.
UBND cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân về phương án đổi tên thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của nhân dân, hoàn thiện hồ sơ trình HĐND cấp xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân phố, gồm tờ trình và phương án đổi tên thôn, tổ dân phố, báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân, dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã về việc đổi tên thôn, tổ dân phố.
Trên cơ sở hồ sơ trình của UBND cấp xã, HĐND cấp xã xem xét, ban hành nghị quyết về đổi tên thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Nghị định quy định quy mô số hộ gia đình, ở TP Hà Nội và TP.HCM, thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên. Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc, thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.
Ở vùng Đồng bằng sông Hồng, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên. Ở vùng Bắc Trung Bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên. Ở vùng Đông Nam Bộ, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên...