Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử

PHẠM HOÀNG QUÂN
24/07/2026 06:22 GMT+7

TTCT - Sự đa dạng dược vật trong các y thư và bản thảo (sách thuốc) cổ đại cho thấy sự hòa quyện và gắn bó giữa thiên nhiên với con người trong xã hội thời kỳ tiền công nghiệp.

Ở góc độ lịch sử sinh thái, sự đa dạng dược vật trong các y thư và bản thảo (sách thuốc) cổ đại cho thấy sự hòa quyện và gắn bó giữa thiên nhiên với con người trong xã hội thời kỳ tiền công nghiệp. Đây là lĩnh vực rộng lớn cần nghiên cứu lâu dài hơn. 

Bài này chỉ là khởi sự với góc nhìn chưa toàn diện của người không phải là thầy thuốc, nhân đọc qua một số ít sách thuốc của Trung Hoa và Việt Nam trong lịch sử.

Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử - Ảnh 1.

Lý Thời Trân, tranh vẽ theo hình dung hiện đại. Ảnh: SOHU

Hồi còn con nít, tui hay cười trong bụng khi nghe ba tui biểu "ăn cái này nên thuốc" khi nhằm vào các thức ăn rất tầm thường như chén cháo củ khoai. Bây giờ tui ứng dụng cách nói ấy với đứa cháu ngoại, thấy nó cũng tủm tỉm lén. 

Đông dược đi vào đời sống con người từ ngàn xưa, bất kể nơi cung đình hay chốn dân dã. Như thích đọc sách thuốc cổ, ắt nhiều người sẽ nhận ra nhiều bài thuốc dân gian hay mẹo chữa bịnh các thứ thật ra đã được ghi lại từ hàng ngàn năm trước.

Nguồn cội đông dược trong hệ sinh thái xanh

Ông Lý Thời Trân viết lời dẫn cho phần "Phục khí" (Trang phục và đồ vật, quyển 38) trong Bản thảo cương mục (BTCM, 1596): "Bức mành rách, cái lọng hư, bậc thánh nhân chẳng bỏ phí; mẩu gỗ vụn, đầu tre thừa, người hiền đức vẫn lưu tâm, ấy là vì trên đời vốn không có vật gì đáng vứt bỏ… Các loại đồ dùng, tơ lụa, y phục tuy thuộc hàng nhỏ nhặt, vụn vặt, nhưng lúc cấp bách đem ra sử dụng lại có công hiệu kỳ lạ. Lẽ nào ta lại có thể xem thường mà không để tâm nghiên cứu hay sao?". Các loại đồ dùng ông Trân lập mục là vị thuốc có gần trăm thứ, trong mắt một y gia thế kỷ 16, ông chỉ nhìn thấy những vị thuốc mà chưa có cái để so sánh, chưa thể nói chuyện hệ sinh thái này nọ, nhưng ngày nay qua những ghi chép ấy, có thể nghiên cứu nhiều mặt.

Hãy thử kiên nhẫn đọc vài phương thuốc xưa để dạo qua thế giới đời thường trong điều trị ở thời điểm cách nay hơn ngàn năm.

Phương thuốc "Trị sản hậu trúng phong", bệnh trạng được mô tả: "Phụ nữ sau khi sanh bị trúng phong, có triệu chứng nguy kịch: thân mình uốn cong ưỡn người về phía sau như cánh cung, á khẩu [uốn ván]". [Bài thuốc]: Xuyên ô đầu 5 lạng (băm nhỏ), đậu đen nửa thăng. [Cách chế và uống]: Cho hai vị vào nồi cùng sao đến khi hạt đậu cháy đen một nửa, lập tức đổ nhanh 3 lít rượu vào nồi rồi đảo / khuấy thật gấp. Dùng lụa thô lọc lấy nước rượu thuốc, cho người bệnh uống một chén nhỏ khi còn ấm để xuất mồ hôi. [Xử lý khẩn cấp]: Nếu người bệnh miệng cắn chặt, cạy răng ra để đổ thuốc vào. Nếu uống một liều chưa hiệu quả, gia thêm 1 nhúm cứt gà ác (sao vàng), hòa vào trong rượu thuốc rồi uống".

Bài thuốc này ông Lý ghi nguồn từ Thái Bình Thánh Huệ phương (Tống, 992). Sản phụ thời xưa rất dễ mắc bịnh uốn ván, do trình vệ sinh dao kéo của mấy bà mụ rất hạn chế. Bài thuốc dùng Xuyên ô đầu (ô đầu Tứ Xuyên) là vị thuốc đại độc (nay thuộc bảng A) để chữa trị khẩn cấp, sao ô đầu với đậu đen (vốn là thuốc giải độc) là cách để giảm độc lực. Rượu cũng để độc lực bốc hơi thêm và dẫn thuốc nhanh. Lụa thô vốn có thành phần của cây dâu tằm và con tằm (2 vị thuốc). Cứt gà là một hỗn hợp các vị thuốc từ côn trùng, ngũ cốc, vỏ ốc hến…, rất khó phân tích thành phần.

Vào thế kỷ X, bài thuốc trên đây chữa khỏi bao nhiêu bịnh nhân khó thể biết, nhưng nhìn nó ở góc độ sinh thái, có thể thấy cả một hệ sinh thái xanh trong bối cảnh xã hội nông nghiệp thuần nhất. Trong đó có thức ăn thông thường đậu đen, thức uống rượu từ gạo nếp ủ với viên men thảo dược, đồ dùng miếng lụa thô, vốn là một cuộc chuyển hóa từ lá cây dâu đến con tằm với tác động vật lý từ con thoi khung dệt qua bàn tay người thợ, chất thải cứt gà hỗn hợp sinh hóa của nhiều thứ.

Trong các phương trị "Phụ nữ bị băng huyết", có bài: Hoàng ti quyên (tro lụa vàng) 5 phân, tro cây tông lư 1 tiền, tro quán chúng, tro thỏi mực (loại chế từ khói gỗ tùng), tro lá sen mỗi thứ 5 phân. Hòa với rượu và nước mà uống, sẽ cầm máu ngay. (BTCM ghi nguồn Tập Giản phương). Hoàng ti quyên tức cũng tức là lụa thô, có màu vàng tự nhiên, không phải do nhuộm.

Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử - Ảnh 2.

Nguyễn Mạnh Bổng, 150 cách Tô điểm sắc đẹp (Nam nữ mỹ dung dược), Hương Sơn xuất bản, Hà Nội-1940. Ảnh: Tư liệu PHQ

Khi viết về vị "hạn liên thảo" (cỏ mực), BTCM chép bài thuốc "hạn liên tán", dẫn từ sách Thọ thân dưỡng lão tân thư (Nguyên, 1307), có tác dụng làm đen râu tóc và chắc răng. Như sau:

[Thành phần]: Hạn liên thảo 1 lạng rưỡi; bánh mè khô 3 lạng; thăng ma; thanh diêm (muối hồ vùng tây bắc Trung Quốc) mỗi thứ 3 lạng rưỡi; kha tử (để nguyên hạt) 20 trái; bồ kết 3 trái; phân tằm lứa muộn (nguyệt tàm sa) 2 lạng.

 [Bào chế]: Tất cả tán thành bột mịn, dùng bột mì hòa với giấm làm hồ, vò viên cỡ viên đạn, phơi khô. Sau đó cho các viên thuốc vào cái bình đất (chưa nung), đem nướng trên lửa đến khi thấy có khói bay ra thì dừng. Lấy thuốc ra tán thành bột mịn. 

[Hướng dẫn sử dụng]: Dùng bột thuốc chà sát, đánh răng hằng ngày. 

Bài thuốc này với thành phần rất phong phú, gồm 4 vị từ thảo dược: cỏ mực, thăng ma, kha tử, bồ kết; 1 vị loại khoáng chất: thanh diêm; 1 vị là chất thải côn trùng: phân tằm; 3 thứ chế phẩm từ ngũ cốc: bánh mè khô, bột mì, giấm; 1 thứ chế phẩm từ đất sét: bình đất chưa nung. Nếu tính luôn bếp lò củi lửa các thứ thì có thể thấy người xưa đem cả hoàn vũ gom vô trong bài thuốc, để chế ra một hũ bột đánh răng mà thôi.

Khi phân loại dược vật cho BTCM, có lẽ ông Lý hơi lấn cấn về phần liên quan đến Người, như vị thuốc "côn đương" thì xếp vô quyển 38 nói về Phục khí, còn vị thuốc "nguyệt y kinh" (vải lót kinh) thì xếp vô quyển 52 nói về Người.

Phần Nhân bộ (q.52) nhập 35 mục (vị thuốc) từ cơ thể người, trong đó có "Phụ nhân nguyệt thủy", tức là nguyệt kinh, nguyệt quý. Chép trong cổ y thư Tố vấn, Đào Hoằng Cảnh ghi nhận chủ trị "giải độc tên độc và trị chứng nữ lao phục [bệnh tái phát do giao hợp sau khi mới hết bệnh]".

Trương Hoa thời Tấn (381-420) viết trong Bác vật chí: "Người dân tộc ở Giao Châu dùng đồng đỏ làm đầu mũi tên, bôi thuốc độc lên đó. Người bị trúng tên thì vết thương lập tức sưng loét, sôi nóng lên, trong chốc lát xương cốt rã nát. Chỉ có cách uống nước kinh nguyệt hoặc nước cốt phân [phân thanh] mới giải được độc này"; lại chép: "Người nước Phù Nam có thuật lạ, có thể khiến đao chém không đứt, nhưng hễ lấy nước kinh nguyệt bôi lên đao thì thuật ấy mất linh ngay".

Trong lịch sử kỹ thuật Trung Hoa cổ đại, nghề luyện kim có lẽ là lâu đời nhứt, mà các thứ thuộc kim (kim loại) và thạch (các loại đá) đều được nhập dược. Với kim loại, sắt và chì được nhập dược rất sớm, chép trong Thần Nông bản thảo. Vị thuốc "hồ phấn" (chì trắng, bột, chế phẩm từ chì) được ghi nhận với phổ tác dụng rộng, từ diệt ký sinh trùng đến điều trị bệnh tiêu hóa và ngoài da. 

Nhưng Lý Thời Trân cũng nhận biết và ghi lại thực trạng thảm khốc của những người thợ làm phấn, cùng biện pháp phòng bị nhiễm độc chì: "Khí chì có độc, thợ làm phấn chì phải ăn thịt heo, thịt chó, uống rượu và nước ngâm sắt (thiết tương) để trấn áp độc tố. Nếu để bụng đói mà nhiễm độc thì thường đổ bệnh mà chết. Cả người già lẫn trẻ nhỏ bị hơi chì hun đúc lâu ngày, đa số đều bị vàng da, tê liệt co quắp rồi qua đời". (BTCM, q.5 - Chì).

Nam dược và đông dược với hệ sinh thái xanh

Từ "Nam dược" được biết qua các sách của Tuệ Tĩnh (có thể sống thời Trần), trong bản in sớm nhất là Hồng Nghĩa Giác Tư y thư (1717) có bài "Nam dược quốc ngữ phú" (Bài phú Thuốc Nam chữ Nôm); và sau đó là sách Nam dược thần hiệu (1761). 

Hải Thượng Lãn Ông tiếp thu danh mục Nam dược của Tuệ Tĩnh, tăng bổ chút ít và đặt tên khác đi là Lĩnh Nam bản thảo (Vị thuốc vùng Lĩnh Nam, một quyển trong bộ Y tông tâm lĩnh). Tên gọi này có lẽ với ý mở rộng địa bàn dược vật, với vùng địa lý sinh thái tương cận gồm cả Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Thời hiện đại nước ta dùng từ Đông dược, chỉ chung cho thuốc Bắc, thuốc Nam.

Qua các sách thuốc Nam tiểu biểu, thấy các thầy thuốc ta xưa áp dụng những phương táo bạo từ Bắc quốc có vẻ rất chừng mực, hoặc là các thầy không dám thử nghiệm lâm sàng, hoặc là các thầy theo biện pháp thay thế bằng loại dược vật lành hơn.

Trường hợp y sư Tuệ Tĩnh, trong Nam dược thần hiệu chép 499 vị thuốc từ thực-động-khoáng vật, trong đó có 6 vị từ thân người (tóc rối, móng tay, răng, phân, nước tiểu con nít, sữa) [BTCM có 35 vị như vậy], và không có phần vị thuốc từ đồ dùng [BTCM, Phục khí, có gần 100 vị]. 

Tuy không nhập vào danh mục Nam dược, nhưng trong bài "Phú Thuốc Nam" và bài "Phú Dược tính" vẫn thấy khá nhiều vị thuốc thuộc loại đồ vật, như phụ nhân côn đương (đồ lót phụ nữ), trái cân (sắt), đồng tiền cổ, ghét trục xe, thỏi mực, da trống hư, giày rách, ghét lược...; và thuộc về thân người cũng thêm vài thứ ngoài 6 vị chép vào danh mục, như: Nam tử âm mao (lông dái), cứt ráy, tử hà xa (nhau thai), thiên linh cái (chóp xương sọ).

Tác giả Lê Trần Đức trong Lược sử Thuốc Nam và dược học Tuệ Tĩnh (1990) lập bảng kê tên vị thuốc trong 2 bài phú hầu như không kể các vị nêu trên. Việc lược bỏ tuy là theo tinh thần khoa học thời đại, nhưng sẽ ảnh hưởng đến nghiên cứu tổng quan, nhất là góc độ lịch sử sinh thái.

Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử - Ảnh 3.

Hình minh họa "cam thảo dây" (tên khoa học: Abrus Precatorius), một vị thuốc Việt Nam. Nguồn: Cây thuốc Việt Nam (Viện Dược liệu, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1990)

Xét về vị thuốc "côn đương", trong Hồng Nghĩa Giác Tư y thư (quyển Hạ), phần "37 phương chữa thương hàn" có chép bài "Tiêu dao thang": "dùng nhân sâm, tri mẫu, trúc thanh, hoàng liên, hoạt thạch, sinh địa, sài hồ, tê giác, cam thảo, rễ hẹ, gừng, táo (sắc lấy nước), lấy côn đương đốt, tán nhỏ 1 tiền rưỡi hòa vào cho uống". Chỗ "côn đương" này bản dịch của Viện Nghiên cứu Đông y dịch là "dùng một cái đáy quần dơ của đàn bà", cách dịch này thiệt chưa khớp nguyên tác.

Cái sai theo ý nói giảm nói tránh này có thể bắt nguồn ngay từ bản chữ Nôm, như trong Chỉ nam Ngọc âm giải nghĩa (1761) phần "Nam dược loại" dịch "côn đương" ra chữ Nôm là "xống quần". Bài thơ trong đó viết: "Côn đương, nhũ trấp, kinh [y]: Xống quần, khóa áo nói chi kể lời". Xống quần chỉ có thể hiểu là đũng quần hay đáy quần, không phải chỉ nội y, nên chưa sát nghĩa với chữ côn đương; nhũ trấp tức sữa người; kinh y [bản khắc thiếu chữ "y"] tức "nguyệt kinh y" chép trong BTCM. Tuy là tự điển Hán-Nôm dạng tổng hợp, nhưng Chỉ nam ngọc âm có nhiều mục từ về Nam dược, lại ghi nhận nhiều vị mà Tuệ Tĩnh không chép.

Hải Thượng Lãn Ông trong Dược phẩm vựng yếu thì có chép vị "nhân trung hoàng", nói nó trị các chứng nhiệt độc và độc dịch lệ truyền nhiễm rất thần hiệu. Nhân trung hoàng (màu vàng trong thân người, tức phân người) vốn được nhập dược từ thế kỷ 4, trong Danh y biệt lục. Đây vốn là một chế phẩm từ cam thảo (vị thuốc được liệt vào hàng "quốc lão", giải và trung hòa được hàng trăm thứ độc). Bỏ cam thảo vô ống tre bịt kín, ngâm trong hố xí (từ ngày Lập đông đến mùa Xuân) sẽ trở thành vị thuốc "Nhân trung hoàng". 

Đại khái là Lãn Ông cũng không chọn chép vào Lĩnh Nam bản thảo các vị thuốc từ đồ vật và hạn chế tối đa các vị từ thân người. Chúng chỉ xuất hiện gián tiếp rải rác trong các phương thuốc do Lãn Ông sưu tập.

Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử - Ảnh 4.

Hoa và cả cây hoa sen đều được dùng làm vị thuốc. Nguồn: Cây thuốc Việt Nam (Viện Dược liệu, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1990)

Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử - Ảnh 5.

Bìa sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh. Ảnh: WIKIPEDIA

Có thể dựa vào Bách gia trân tàng để trích lục vài điều, tập này gom chép bài thuốc qua nhiều nguồn, từ các thấy thuốc cùng thời, từ dân gian truyền miệng. Nếu BTCM có bài thuốc dùng nòng súng thúc đẻ, thì ở đây có một bài thuốc dân gian dùng kiếm trị lang ben: "Lấy gỉ sắt lưỡi gươm xưa nghiền thành bột, hòa với nước chanh bôi lên", cũng là dụng võ khí giết người để trị bịnh. 

Trong đây, có thể thấy xuất hiện nhiều vị thuốc dân dã, như: Cứt chuột, cứt dê, cứt heo, nhân trung bạch (cặn nước tiểu), giấy lót trứng tằm, tóc rối, mực tàu, sơn khô, vải thâm, lụa, vó rách, chài rách, nồi đồng, quả cân bằng sắt, lưỡi gươm xưa… 

Một bài thuốc chữa thương ứ huyết viết: "Nhân trung bạch phơi khô để sẵn, gặp khi bị thương lấy đắp chỗ đau"; một bài chữa chứng băng huyết ghi: "Đốt quả cân bằng sắt cho đỏ, rồi nhúng vào rượu, lấy rượu đó uống với thuốc".

Đông dược với hệ sinh thái xanh trong lịch sử - Ảnh 6.

Trường hợp vị "sơn khô" (can tất), tức nhựa cây sơn để khô, thấy Lãn Ông chép là chữa chứng huyết ứ đau bụng đã lâu: "Can tất đốt ra vo viên với hồ, uống với rượu". Đây vốn là cây sơn thổ sản Bắc Nam đều có, nhưng BTCM chép kỹ về cây sơn, lá sơn, nhựa sơn khô, với nhiều công dụng hơn, tức là sự thử nghiệm và ứng dụng rộng hơn, đến như có thể "Lấy cái chén sơn [chén gỗ phủ sơn] úp vào vết bọ cạp kẹp sẽ thấy công hiệu". 

Về phía Lãn Ông, có thể trong dân gian còn nhiều ứng dụng mà ông chưa thu thập đủ, như trường hợp sau này thấy trong bộ sưu tập của H. Oger (1909) có bức "Đau bụng đốt lá sơn", tức là khói lá sơn còn có thể trị đau bụng, phép chữa trị này không thấy ghi trong sách thuốc.

Đầu thế kỷ XX bắt đầu có sự xuất hiện của nhiều sách thuốc viết và in bằng chữ quốc ngữ. Rất nhiều phương thuốc xưa được dịch ra làm thành sách phổ thông cho dân chúng, bên cạnh lợi ích lớn cũng có nhiều sai lầm thiếu sót. 

Như trường hợp ông Nguyễn Mạnh Bổng - một trong vài người khởi sự soạn sách thuốc - trong cuốn dạy làm đẹp, ông có bày cách trị bịnh hôi nách: "Bánh chưng 1 cái để nóng cắt ra làm đôi, mật đà tăng [cặn lò nấu bạc] rắc vào miếng bánh 1-2 đồng cân. Cặp bánh vào 2 nách nằm ngủ một lúc dậy thời vất bỏ bánh đi". (Nam nữ mỹ dung dược, tr.14). 

Bài này ông Bổng chép lại đâu đó trong sách thuốc Tàu, mà dịch sai, "chưng bính" bên Tàu là bánh bột hấp, thuần là bột thì mới làm tá dược được. Còn như người đọc dựa theo đó mà lấy cái "bánh chưng" gói ở Hà Nội thời ông Bổng in sách (1940) cắt đôi ra thì thịt mỡ đậu xanh các thứ đổ từa lưa, phỏng có tác dụng gì?

Qua những dược vật nêu trên, từ cây cỏ, động vật, khoáng vật, đồ vật, thực phẩm, thân người..., có thể thấy dù Bắc hay Nam, vị thuốc đều rất đa dạng, cho thấy sự hòa quyện giữa con người với thế giới tự nhiên (và cả nhân tạo) trong một tổng thể hệ sinh thái xanh trong quá khứ.

Sự đa dạng dược vật đang mất dần

Sự giao lưu y dược học Đông - Tây trong lịch sử tiến hóa đã dần loại bỏ những phương thuốc không còn phù hợp với khoa học về vệ sinh an toàn với sức khỏe con người.

Tìm hiểu về dược vật cổ truyền với mục đích nghiên cứu lịch sử sinh thái không phải để ứng dụng mọi phương thuốc cổ. Những phương thuốc dẫn chứng trên đây chỉ nhằm cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa thiên nhiên với con người trong đời sống song hành với bệnh tật và cách người xưa ứng phó linh hoạt ra sao. Qua đó thấy rằng, nguồn thuốc thang ở xã hội nông nghiệp trong hệ sinh thái xanh đặc biệt đa dạng.

Dược vật, với gần 2.000 vị thuốc, trong đó có nhiều loài thực vật, động vật, khoáng chất, các loại đất, nước, lửa, các loại đồ dùng, và cả một số bộ phận cơ thể người. Đặt vào một trường hợp lựa chọn giải pháp cứu nguy, người ta có thể lấy nhiều thứ thuốc ngoài thiên nhiên, trong vườn nhà, ngay các vật dụng trong nhà, và gần nhứt là ở tại thân mình.

Loài vật sống trong môi trường tự nhiên, hấp thụ "khí" trời (nắng, mưa, sương, gió, đất, nước…) mà tự có cơ chế để bảo vệ mình. Con người đã dùng chính những đặc tính đó của cỏ cây, động vật để chữa bệnh. Sự kết nối này biến hệ sinh thái xanh thành một kho thuốc sống. Dược vật đa dạng trong một hệ sinh thái đa dạng như vậy đang mất dần. 

Ngày nay công nghệ hóa dược đã làm được nhiều việc mà các thầy thuốc xưa phải qua chiêm nghiệm và đoán định lần mò có khi nhiều đời cũng chưa hiểu thấu. Nhưng khi y học hiện đại phát triển, con người lại đang làm tổn thương hệ sinh thái trầm trọng. Sự ô nhiễm không khí, nguồn nước và mặt đất khiến nhiều loài cây thuốc quý tuyệt chủng, những vật dụng được chế tạo từ cây cỏ vốn là dược vật cũng dần hiếm hoi.

Dược vật và hệ sinh thái xanh là mối quan hệ cộng sinh. Nay thì liệu có là điều không tưởng khi nghĩ và hướng đến một hệ sinh thái nuôi dưỡng dược vật, cứu chữa con người, và con người bảo vệ hệ sinh thái đó?■

Lưu ý quan trọng: Bài này nhằm nghiên cứu lịch sử sách thuốc và đời sống cổ qua các phương thuốc. Tác giả không phải là thầy thuốc. Mọi quyết định liên quan tới y khoa, độc giả cần tham khảo ý kiến chuyên môn có thẩm quyền.